BÂY GIỜ LÀ....

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Nhung_5B.jpg FLASH1_CHAO_MUNG_NAM_HOC_MOI.swf 16_chu_e_dtd.swf 15_viet_chu_c_x.swf 13_chu_d_dtd.swf 11luyen_chu_o.swf HN_vang_BCM.swf 025Duong_ve_hai_thon__Thu_hien.mp3 Diem_xua__Trinh_Cong_Son.swf Chao_ngay_moi.swf Happy_new_year.swf Diemxuamoinhat.swf Gs_ngotngao.swf Love_flowers.gif Giac_mo_cha_pi.swf Nguoithay.swf 12322.swf Anh131.jpg Don_tiep_quan_Tuong_tim_nguoi_hien_tai_kien_quoc_dat_nuoc.flv Ngoisaobay.mp3

Rót trà mời khách

2 khách và 0 thành viên

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Phong phú
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Website Thầy Chí (Ân Nghĩa).

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết > TƯ LIỆU LỊCH SỬ >

    HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG - NGUYỄN HUỆ

                                   Kỳ mưu vua Quang Trung

    Cách nay hơn hai trăm năm, tại kinh đô Phú Xuân, trước giờ tiến quân ra Bắc đánh đuổi giặc Thanh xâm lược, Nguyễn Huệ đã lập đàn làm lễ tế trời đất và đăng quang. Trước ba quân đội ngũ chỉnh tề, gươm đao sáng loáng, Nguyễn Huệ bước lên đàn Nam Giao, kêu gọi: - "Hỡi ba quân tướng sĩ! Chúng ta sẽ tiến ra Bắc Hà, đánh đuổi giặc Thanh, lấy lại bình yên cho trăm họ. Ba quân hãy cùng ta quan sát, nếu cả hai trăm đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng ta đại thắng. Nhược bằng có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng ta có điều trắc trở". Đoạn Nguyễn Huệ chỉnh trang lễ phục, bước xuống sân. Đội vệ binh khênh chiếc nhang án, khói hương nghi ngút, trên có mâm tiền phủ nhiễu điều. Nguyễn Huệ chắp tay khấn vái, đặng bưng mâm tiền, cung kính dâng lên cao, rồi hất tung xuống sân. Tướng lĩnh quân sĩ chăm chú nhìn rất kỹ, đồng thanh reo lên: "Sấp, sấp, tất cả đều sấp! Đại thắng… đại thắng rồi…! " . Nguyễn Huệ như mở cờ trong bụng, dõng dạc tuyên bố: "Hỡi ba quân! Đất trời phù hộ, đã báo cho ta điềm thắng trận. Chúng ta hãy đồng tâm nhất trí, nhất định sẽ đánh đuổi được giặc Thanh. Hãy nổi trống, truyền lệnh tiến quân…!". Quả nhiên đêm mồng bốn rạng ngày mồng năm tết Kỷ Dậu (29-30/1/1789) đồn giặc ở Khương Thượng bị hạ, Thái thú Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Chủ soái Tôn Sĩ Nghị hốt hoảng bỏ thành chạy về nước, không còn mảnh giáp. Gò Đống Đa trở thành di tích lịch sử vẻ vang của Việt Nam ta! "Điềm trời" ấy thực ra chính là kỳ mưu của Nguyễn Huệ. Bởi thời ấy, mọi người còn cả tin vào Trời, Phật, Thần, Thánh. Dựa vào đó, Nguyễn Huệ bí mật đúc hai trăm đồng tiền cả hai mặt đều là sấp dùng để xin âm dương trong lễ đăng quang nhằm cổ vũ ba quân quyết chiến thắng. Kể từ đó, hàng năm vào ngày mồng năm Tết nguyên đán, nhân dân Thăng Long lại nô nức về gò Đống Đa dự hội. Đây là lễ hội kỷ niệm chiến thắng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta do hoàng đế Quang Trung - người anh hùng áo vải Tây Sơn lãnh đạo.

                                 Con người Quang Trung – Nguyễn Huệ

    Quang Trung - Nguyễn Huệ là một vị anh hùng dân tộc kiệt xuất. Hiện nay, chúng ta biết khá rõ về sự nghiệp của Quang Trung; nhưng hình dáng, tướng mạo, tính tình vua Quang Trung như thế nào lại rất ít khi được nhắc đến. Theo Hoa Bằng trong Quang Trung – Anh hùng dân tộc thì “Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần”. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện thì “Nguyễn Huệ tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, cặp mắt sáng như chớp”. Theo một cung nhân cũ nói với bà Thái Hậu, mẹ vua Lê Chiêu Thống lúc quân Thanh đang chiếm đóng Thăng Long thì “Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn siêu, sợ hơn sợ sấm sét…”. Theo các tài liệu lịch sử cũ thì Nguyễn Huệ còn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và can đảm nữa. Căn cứ như trên, chúng ta có thể thấy rằng Nguyễn Huệ có một thanh âm, một vẻ mặt, đôi mắt làm cho mọi người phải kính trọng. Sở dĩ người cung nhân của nhà Lê cho rằng Nguyễn Huệ có vẻ mặt hung dữ làm cho mọi người phải khiếp sợ vì người cung nhân ấy tuy không phải là kẻ thù, nhưng đã phục vụ những kẻ thù bại trận, vốn đã khiếp đảm về các việc làm của Nguyễn Huệ. Lẽ đương nhiên là vẻ mặt Nguyễn Huệ có cái gì khiến cho người ta phải sợ thật, nhưng đó chỉ là đối với kẻ thù của ông mà thôi. Còn đối với bạn bè, đối với nhân dân, vẻ mặt của ông chỉ gây ra cái gì làm cho người ta phải tin phục. Chứng cớ là Giáo Hiến chỉ thấy “Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm, mắt như chớp sáng, tiếng như chuông vang” và biết ngay Nguyễn Huệ “là một thanh niên lỗi lạc có tương lai phi thường”. Sử sách cũ nói Nguyễn Huệ nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Điều này, chúng ta có thể tin là đúng sự thật. Với phương tiện giao thông vận tải hồi thế kỉ XVIII, Nguyễn Huệ đã mang quân tiến vào Nam đánh quân chúa Nguyễn năm lần, mang quân ra Bắc ba lần. Không nhanh nhẹn cả về cách đi lại lẫn phép hành quân và không khỏe mạnh thì không thể đi Nam về Bắc luôn luôn và nhanh chóng như vậy. Sự đi lại của Nguyễn Huệ nhanh chóng nổi tiếng trong lịch sử. Người cung nhân của vua Lê đã phải than: “Xem hắn (Nguyễn Huệ) ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết”. Nguyễn Huệ là một người rất can đảm. Để động viên tướng sĩ, mỗi khi ra trận, Nguyễn Huệ thường đi đầu. Sáng ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789), trong trận Ngọc Hồi, ông đã thân chinh đốc chiến. Sự can đảm của ông làm nức lòng tướng sĩ, khiến cho tướng sĩ hăng hái, ồ ạt tiến vào diệt quân Thanh ở Ngọc Hồi. Trong cuộc sống và đấu tranh, Quang Trung - Nguyễn Huệ biểu thị nhiều phong cách, cá tính độc đáo. Nguyễn Huệ rất ham học, học thầy, học trong cuộc sống và thực tiễn đấu tranh. Trong một bức thư gửi Nguyễn Thiếp, ông nói: “Quả đức học ở một sự nghe trông”. Ngô Thì Nhậm là người cộng tác gần gũi của Nguyễn Huệ đã nhận xét: “Quang Trung là người vốn tính ham học, dẫu trong can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lí. Ngày thường thì nghị luận, ý tứ rành mạch, khai mở được nhiều điều mà sách vở ngày xưa chưa từng biết”. Nhờ tinh thần ham học đó, Nguyễn Huệ đã trau dồi một nhận thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực và đạt đến một trình độ văn hóa khá cao. Trong đấu tranh, Nguyễn Huệ là người cương nghị và quyết đoán nhưng trong cuộc sống và quan hệ bình thường lại rất vui tính, thích hài hước. Ông mê hát tuồng, hát trống quân và thích lối nói vần vè của dân gian. Có một lần, vua Càn Long nhà Thanh gửi thư sang xin Quang Trung một đôi voi chiến. Tương truyền Quang Trung đã phê vào thư: "Thằng Kiền Long nó xin một đôi voi, chọn con nào cụt vòi cho nó một con". Đối với kẻ thù của dân tộc, Quang Trung đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng, nhưng mỗi khi kẻ thù đã đầu hàng hoặc bị bắt làm tù binh thì lại được Quang Trung đối xử khoan dung, độ lượng. Quang Trung Nguyễn Huệ là một anh hùng bách chiến bách thắng, một người táo bạo, quyết đoán nhưng cũng rất nhân ái, độ lượng, biểu thị ý chí và mơ ước lớn nhất của dân tộc ta là được sống trong độc lập, thanh bình, trong quan hệ hòa hiếu với lân bang. Con người và sự nghiệp Quang Trung Nguyễn Huệ kết tinh và biểu thị tư tưởng, tình cảm, trí tuệ của nhân dân, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Sự nghiệp Quang Trung Nguyễn Huệ là một bản anh hùng ca của thế kỉ áo vải cờ đào, một thời đầy biến động và bão táp của đất nước. Sự nghiệp ấy cùng với con người ấy sống mãi trong lịch sử quang vinh của dân tộc và trong tình cảm, kí ức bất diệt của nhân dân. (Theo Quang Trung Nguyễn Huệ - Những di sản và bài học)

           Giai thoại về Nguyễn Huệ và Nguyễn Đăng Trường

    Nguyễn Đăng Trường là quan tòa của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhưng đồng thời cũng là một nho sĩ có danh tiếng. Từ khi bắt đầu dựng cờ khởi nghĩa cho đến khi thành lập được vương triều, Nguyễn Huệ luôn nhận thức được vai trò to lớn của các nho sĩ, mong muốn họ tỉnh táo trước nguy cơ bị sa vào cơn mộng mị của quan niệm trung quân mù quáng. Vì những lẽ đó, Nguyễn Huệ rất muốn Nguyễn Đăng Trường chịu hợp tác với mình. Sách Đại Nam thực lục, Tiền biên, quyển 12, đã ghi lại câu chuyện lịch sử này, đại loại như sau: "Năm 1774, Chúa Nguyễn Phúc Thuần ở Đàng Trong vừa bị Tây Sơn tấn công, vừa bị quân đội của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài vượt sông Gianh tấn công vào, chống đỡ không nổi, đành bỏ chạy tuốt vào phía Nam. Nguyễn Đăng Trường không kịp chạy theo, đành phải đem mẹ già đến lánh nạn ở Quy Nhơn. Bấy giờ, Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương đã chạy vào Gia Định. Nguyễn Đăng Trường bị quân Tây Sơn bắt, Nguyễn Huệ đối đãi Nguyễn Đăng Trường như khách quý, coi như thầy, thật lòng thuyết phục Nguyễn Đăng Trường hợp tác với mình xây dựng vương triều mới. Nhưng Nguyễn Đăng Trường không chịu, một mực khước từ để ra đi. Không giữ lại được, Nguyễn Huệ đành lòng để Nguyễn Đăng Trường đi vào Nam. Khi chia tay Nguyễn Huệ nói: - Tiên sinh ra đi lần này ắt nuôi ý muốn kéo lại trời đất, nhưng liệu có thể được chăng? Tôi e rằng ngày khác tiên sinh sẽ ăn năn không kịp nữa. Nguyễn Đăng Trường đáp lại: - Bậc đại phu ở đời, trước hết phải giữ đức trung và đạo hiếu. Ta nay dắt mẹ đi tìm vua thì trung hiếu đã rõ ràng. Còn như được hay mất, khốn cùng hay hanh thông… tất cả đều do mệnh trời cả thôi, có gì phải hối tiếc đâu. Nguyễn Huệ cảm phục là người có chí, cấp thuyền lương cho đi. Tháng 4 năm 1777, Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn tấn công Gia Định, đập tan toàn bộ dinh lũy và quân đội của nhà Nguyễn, khiến Nguyễn Ánh chỉ còn biết lẩn trốn hết chỗ này đến chỗ khác và Nguyễn Đăng Trường lại bị bắt. Gặp nhau, Nguyễn Huệ hỏi: - Tiên sinh hẳn còn nhớ lời tôi nói ngày nào khi chia tay chứ? Nay tiên sinh nghĩ sao? Nguyễn Đăng Trường cúi đầu, đáp lại: - Nay chỉ có chết mà thôi, hà tất gì cứ phải hỏi? Nguyễn Đăng Trường quay mặt về hướng bắc lạy mấy lạy rồi mới chịu chết. Năm 1822, triều Minh Mạng truy tặng Nguyễn Đăng Trường chức Thượng Thư". Bàn về câu chuyện này, tác giả Nguyễn Khắc Thuần trong "Việt sử giai thoại" tập 7, đã viết: "Mỗi thời có cách hiểu khác nhau về trung và hiếu, nhưng phàm đã là người thì phải biết hiếu, biết trung. Yêu hay ghét Nguyễn Đăng Trường là quyền riêng của mỗi người, không thể lấy quyền riêng ấy mà nói rằng lời của Nguyễn Đăng Trường là sai. Nguyễn Huệ lúc ấy dầu mới chỉ có 23 tuổi nhưng đã đủ bình tĩnh để lắng nghe mọi người, kính thay! Múc bớt một gáo nước, biển cả chẳng hề vơi, thả một Nguyễn Đăng Trường, Tây Sơn không hề suy yếu, đại trượng phu trong các đại trượng phu chính là Nguyễn Huệ đó thôi. Bị bắt lần thứ hai, Nguyễn Đăng Trường đã tự bộc lộ rõ sự non kém của mình. Một là, nói theo cách sử cũ, ông xứng đáng xếp vào hàng… ngu trung. Hai là, Chúa đã chạy vào Nam, có còn đâu ở Phú Xuân mà quay mặt về hướng bắc để lạy. Trong sự lạy, nỗi khiếp sợ của muôn đời vẫn là lạy sai địa chỉ đó thôi. Cương trực và gàn dở vốn là hai khái niệm rất khác nhau, vậy mà sao người đời vẫn thường hay lầm lẫn khái niệm này sang khái niệm nọ, tỉ như Nguyễn Đăng Trường". (Theo Địa chí Bình Định)

    Những ánh hào quang rực rỡ sắc xuân

    Cách đây tròn 255 năm, trên mảnh đất Tây Sơn đã ra đời một con người mang đầy huyền thoại với dung mạo oai nghiêm, dũng khí phi thường, võ công hiển hách khiến ánh hào quang rực rỡ sắc xuân đến nay vẫn còn toả sáng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc và em là Nguyễn Lữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn lật đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn ở Đàng trong, đánh tan quân xâm lược Xiêm và thế lực của Nguyễn Ánh (1784 – 1785), lãnh đạo nghĩa quân lật đổ chế độ phong kiến họ Trịnh ở Đàng ngoài, xóa bỏ triều đại phong kiến nhà Lê mục nát (1786). Trước sự xâm lược của phong kiến Mãn Thanh, ngày 22-12-1788 (25-11 Mậu Thân), tại kinh đô Phú Xuân (Huế), Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, thống lĩnh quân đội mở cuộc hành quân thần tốc ra Bắc. Đến đầu xuân Kỷ Dậu (1789), quân đội của Hoàng đế Quang Trung đã quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, khôi phục nền độc lập, thống nhất của nước ta làm nên chiến thắng Đống Đa lịch sử. Chiến thắng Đống Đa và những chiến công hiển hách khác luôn gắn liền với tên tuối của người anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hơn hai thế kỷ rưỡi qua đi, nhưng những huyền thoại về lòng dũng cảm, khí phách phi thường, sực mạnh vô địch của đội quân Tây Sơn dũng mãnh phi thường thiên biến vạn hoá của ông và bản thân ông vẫn còn vang vọng. Cuộc hành quân thần tốc mùa xuân Kỷ Tỵ của đoàn quân Tây Sơn đến nay vẫn được coi là cuộc hành quân (bộ binh) nhanh nhất trong lịch sử mọi cuộc chiến tranh. Khởi binh từ Phú Xuân (Huế) ngày 22-11-1788, chỉ 40 ngày sau quân Tây Sơn đã có mặt ở thành Thăng Long ăn mừng đại thắng. Riêng chặng Phú Xuân ra ngệ An hơn 300 km chỉ mất có 4 ngày. Sử sách còn ghi “Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất gấp, đi lại vùn vụt, mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp.” Quang Trung - Nguyễn Huệ nêu gương sáng về tính hiếu học, cầu tiến bộ. Ngồi trên ngôi báu nhưng ông rất ham đọc sách. Tây Sơn lược thuật còn ghi “Khi xong công việc bộn bề, Trẫm nghỉ ngơi vui ý đọc sách”. Ông còn chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách cho vua.” Trong suốt hơn hai mươi năm cầm quân dẹp thù trong, đánh giặc ngoài, Quang Trung - Nguyễn Huệ luôn bách chiến bách thắng. Sách “Tây Sơn luợc thuật” viết “Lúc lâm trận thật anh hung lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp yên phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được. Thậm chí, địch quân mới nghe tin Quang Trung tiến đãnh đã sợ mất mật, bủn rủn chân tay, hồn bay phách lạc, bỏ chạy.” Vua Quang Trung có rất nhiều tên gọi. Thuở ấu thơ có tên là Hồ Thơm. Lớn lên đổi họ Hồ sang Nguyễn (Nguyễn Văn Thơm). Thầy học đổi tên cho thành Nguyễn Huệ. Ngoài ra có sách ghi ông tên là Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Văn Bình. Nguyễn Huệ là tên được ông sử dung nhiều nhất và cũng được biết đến phổ biến nhất. Quang Trung - Nguyễn Huệ có 3 Hoàng hậu, 17 người con 11 hoàng tử và 6 công chúa. Người được phong làm chính cung Hoàng hậu đầu tiên (1789) là Phạm Thị Liên. Năm 1791 (Tân Hợi), bà Hoàng họ Phạm qua đời, ông cưới bà Bùi Thị Nhạn (cô ruột nữ tướng Bùi Thị Xuân) làm chính cung Hoàng Hậu. Đồng thòi ông còn tấn phong công chúa Lê Ngọc Hân được vua Lê Hiển Tông gả cho từ năm 1786 (Bính Ngọ) làm Bắc cung Hoàng hậu. Quang Trung - Nguyễn Huệ qua đời đột ngột đêm 16-9-1792 (tức 29 tháng Bảy Nhâm Tý) thọ 39 tuổi. Bộ “Hình luật thư” của triều đại Tây Sơn, việc Bắc phạt đánh Thanh đòi đất, việc xây dựng Phượng Hoàng Trung đô ở Nghệ An để rời đô về quê (ông người gốc Nghệ An, sinh ra ở Bình Định), cùng biết bao hoài bão cải cách, xây dựng quốc gia thịnh vượng của ông đều bỏ dở. Nhưng những chiến công hiển hách của thời Tây Sơn mà điển hình là đại thắng mùa xuân Kỷ Tỵ, vẫn là ánh hào quang rực rỡ chói sáng mỗi độ xuân về và mãi muôn đời sau. Theo Xuân Duy (Báo điện tử - Đảng Cộng sản Việt Nam)
    Nhắn tin cho tác giả
    Huỳnh Quốc Chí @ 22:41 26/10/2009
    Số lượt xem: 1113
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến